Tìm hiểu lịch sử: Cách mạng tháng 8
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Cánh Buồm Đỏ thắm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Bích Thảo
Ngày gửi: 08h:41' 19-08-2025
Dung lượng: 452.1 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Bích Thảo
Ngày gửi: 08h:41' 19-08-2025
Dung lượng: 452.1 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Chương 1 Lời tiên đoán
Lông-gren là thuỷ thủ của con tàu “ô-ri- On” chở được ba trăm tấn. Anh đã làm việc trên con tàu đó
mười năm và gắn bó với nó có lẽ còn thân thiết hơn là con với mẹ. Nhưng cuối cùng thì anh phải bỏ
con tàu.
Chuyện xảy ra như thế này. Vào một trong những chuyến về thăm nhà hiếm hoi, anh không thấy chị Mêri, vợ anh, từ xa đứng trên ngưỡng cửa vẫy vẫy tay, rồi sau đó chạy tới đón anh, thở hổn hển chừng
như đứt hơi. Bên chiếc giường trẻ con - đồ vật mới trong căn nhà nhỏ của Lông-gren - anh chỉ thấy bà
hàng xóm với dáng vẻ đầy xúc động.
- Đã ba tháng rồi tôi phải chăm sóc nó đấy, - bà hàng xóm nói, - anh hãy nhìn con gái anh đi!
Lông-gren lặng người, cúi xuống đứa trẻ tám tháng đang chăm chăm nhìn bộ râu dài của anh, rồi anh
ngồi xuống, đầu cúi, tay vân vê bộ râu. Râu anh ướt đầm vì mưa.
- Mê-ri chết bao giờ hở bác? - anh hỏi.
Người đàn bà kể lại câu chuyện buồn thảm, chốc chốc dừng lại nựng đứa bé và qua? quyết rằng Mê-ri
đã được lên thiên đường. Khi Lông-gren biết rõ câu chuyện thì thiên đường đối với anh chẳng sáng
sủa hơn nhà chứa củi là bao nhiêu, và anh nghĩ rằng nếu như bây giờ có ca? vợ anh thì ánh lửa của
chiếc đèn nhỏ có thể là một niềm vui không gì thay thế được đối với người phụ nữ đã đi vào xứ sở
huyền bí.
Chừng ba tháng trước, người mẹ trẻ gặp phải chuyện không may. Hơn nửa số tiền Lông-gren để lại,
Mê-ri đã tiêu tốn vào việc chữa chạy sau lần đẻ khó, vào việc chăm sóc sức khoẻ cho đứa trẻ sơ sinh.
Thêm nữa, Mê-ri lại đánh mất một số tiền tuy không nhiều nhưng rất cần cho cuộc sống của hai mẹ
con. Hoàn cảnh khó khăn đó đã buộc Mê-ri phải đến nhà Mê-néc vay tiền. Mê-néc là chủ quán rượu,
có một cửa hàng tạp hoá nhỏ. Y được coi là kẻ giàu có.
Mê-ri đến nhà y vào lúc sáu giờ tối. Gần bảy giờ, bà hàng xóm gặp chị trên đường đến thị trấn Li-xơ.
Mê-ri vừa khóc vừa buồn bã kể rằng chị phải đi lên phố để cầm chiếc nhẫn cưới. Chị nói thêm rằng
Mê-néc đồng ý đưa tiền cho chị, nhưng đòi chị phải yêu hắn. Mê-ri đành về không.
- Nhà cháu không còn gì ăn, bác ạ, - chị nói với bà hàng xóm. - Cháu phải đi lên phố cố kiếm về ít
tiền, rồi hai mẹ con gắng lần hồi cho đến khi nhà cháu về.
Tối hôm đó trời vừa rét vừa có gió thổi, bà hàng xóm đã không ngăn được Mê-ri đi lên phố vào ban
đêm. “Cháu sẽ bị ướt, Mê-ri ạ, trời đang lất phất mưa, cứ cái điệu gió này thì trời sắp mưa to đấy!”
Từ làng ven biển lên thị trấn Li-xơ ca? đi lẫn về nhanh cũng mất ít nhất ba giờ, nhưng Mê-ri không
nghe theo lời khuyên của bà hàng xóm. “Thôi, cháu không muốn quấy qua? các bác nữa, - Mê-ri nói, gần như nhà nào cháu cũng từng vay bánh mì, chè hay bột. Đem cầm chiếc nhẫn này là xong thôi bác
ạ”. Mê-ri đi lên phố về, đến hôm sau thì lên cơn sốt cao, mê sảng. Trời đêm lạnh giá đã làm chị bị
viêm phổi nặng - theo lời ông bác sĩ trên phố được bà già tốt bụng mời về cho biết. Một tuần sau,
chiếc giường đôi của Lông-gren đã trống không, bà hàng xóm đã dọn sang nhà anh ở để chăm sóc trẻ.
Đối với một người đàn bà goá bụa cô đơn như bà thì việc đó không khó. “Thêm nữa - bà nói tiếp, không có đứa bé ấy thì cũng buồn”.
Lông-gren đi lên phố, thôi việc, từ biệt bạn bè rồi trở về nhà nuôi nấng bé A-xôn. Khi đứa bé đi chưa
vững thì bà hàng xóm còn ở lại trong nhà Lông-gren, thay thế người mẹ quá cố chăm sóc nó. Nhưng
khi A-xôn đi vững, bước qua được ngưỡng của thì Lông-gren quyết định sẽ tự mình nuôi dạy đứa trẻ.
Anh cám ơn bà hàng xóm đã tận tình giúp đỡ anh. Rồi từ đấy, anh sống cuộc đời cô đơn của người goá
vợ, tập trung tất ca? ý nghĩ, hi vọng, tình cảm và kỷ niệm của mình vào đứa trẻ.
Mười năm sống nay đây mai đó chỉ đem lại cho anh một số tiền rất nhỏ. Anh bắt đầu làm việc. ít lâu
sau, trong những cửa hiệu trên phố đã thấy bày bán những đồ chơi do chính tay anh khéo léo làm ra những chiếc thuyền nhỏ, xuồng máy, thuyền buồm một boong, hai boong, tàu thuỷ, tàu tuần dương, tóm
lại tất ca? những gì anh đã gần gũi, những gì trong khi làm việc đã phần nào thay thế cho anh cuộc
sống ồn ào ngoài cảng, thay thế được lao động đầy thơ mộng của những chuyến đi biển. Bằng công
việc đó, Lông-gren đã kiếm tiền để hai bố con có thể sống một cách tằn tiện. Vốn là người ít giao du,
sau khi vợ mất, Lông-gren lại càng trở nên kín đáo, ít cởi mở hơn. Vào những ngày lễ, thỉnh thoảng
người ta thấy anh trong quán rượu, nhưng anh không bao giờ ngồi mà chỉ vội vàng uống một cốc rượu
ngay tại quầy rồi ra về, đáp lại lời thăm hỏi của mọi người một cách vắn tắt: “Xin chào”, “Tôi đi
nhé”, Vâng”, “Cũng thường thôi”. Anh không thích tiếp khách. Khi có khách, anh khéo léo tỏ ý muốn
họ về bằng những lời nói bóng gió xa xôi hay những cớ do anh tưởng tượng ra. Những lúc ấy, khách
chỉ còn cách là nghĩ ra một lý do nào đó để cáo từ. Phần anh cũng không thăm ai, vậy là giữa anh và
dân làng có cái gì đó lạnh lùng ngăn cách. Nếu như việc làm đồ chơi của anh phụ thuộc nhiều vào
công việc của dân làng thì quan hệ như thế có thể đem lại cho anh nhiều khó khăn. Thức ăn dự trữ và
các thứ hàng cần thiết anh mua trên thị trấn - Mê néc không thể khoe khoang được rằng Lông-gren đã
mua hàng ở cửa hiệu của y, dù chỉ là một bao diêm. Anh tự mình làm mọi việc trong nhà và tỏ ra rất
chịu khó nuôi dạy con gái, một việc vốn phức tạp, không phải của đàn ông.
A-xôn đã lên năm tuổi. Khi em ngồi trên đùi Lông - gren, chăm chú mân mê chiếc cúc áo gi-lê hay
ngộ nghĩnh hát những bài ca thuỷ thủ, Lông - gren thường dịu dàng cười với con. Qua giọng hát con
trẻ, những bài hát ấy gợi nhớ đến con gấu thắt đai xanh đang vụng về nhảy múa. Vào thời gian đó có
một chuyện xảy ra bao trùm bóng đen lên ca? hai bố con.
Dạo ấy là đầu mùa xuân, thời tiết còn khắc nghiệt như mùa đông, nhưng theo một kiểu khác. Khoảng
ba tuần liền, gió bấc từ phía biển thổi mạnh về miền đất lạnh.
Thuyền đánh cá được kéo lên bờ, xếp thành dãy dài trên bãi cát trắng tựa như vây lưng những con cá
khổng lồ. Không ai dám đi biển lúc tiết trời như thế. Trên con đường duy nhất ở làng chẳng mấy khi
gặp người nào rời khỏi nhà. Cơn lốc lạnh lẽo từ những ngọn đồi ven biển thổi thốc vào chân trời trống
trải, biến không trung thành một trò tra tấn khắc nghiệt. Suốt từ sáng đến tối, khói toa? trên những mái
nhà dốc đứng trong làng Ca-péc-na.
Nhưng những ngày gió bấc ấy lại làm Lông-gren thích ra khỏi căn nhà nhỏ ấm cúng hơn là vào những
ngày mặt trời toa? ánh vàng xuống mặt biển và làng Ca-péc-na. Lông-gren đi đến chiếc cầu nhỏ dựng
trên những hàng cọc dài, rồi đứng ở tận cuối cầu mà ngậm tẩu hút thuốc dưới trời gió rét. Anh nhìn
những con sóng bạc đầu nối tiếp nhau đang dữ dội tràn vào bờ tung bọt trắng xoá, những đợt sóng
chạy ầm ầm lan khắp vùng chân trời dông bão đen ngòm hệt như một đàn quái vật hung dữ đang lồng
lộn trong cơn tuyệt vọng tìm đến một niềm an ủi xa xôi. Những tiếng ầm ào, từng loạt cột nước dựng
lên và ca? những luồng gió tưởng như thấy được đang vằm nát xung quanh từng đợt một thật đều, thật
mạnh, làm dịu lại tâm hồn đau đớn của Lông-gren, giảm đi nỗi buồn da diết, như đưa anh vào giấc ngủ
thật say.
Có lần, vào một trong những ngày ấy, đứa con trai mười hai tuổi của Mê-néc tên là Khin trông thấy
chiếc thuyền của bố buộc dưới cầu bị sóng xô vào chân cầu chực làm vỡ mạn thuyền, bèn về nói lại
với bố. Trước lúc cơn bão kéo đến, Mê-néc quên kéo thuyền lên bờ cát. Y lập tức chạy ra ngoài biển
và nhìn thấy Lông-gren đang đứng hút thuốc tận cuối cầu, lưng quay về phía y. Ngoài bờ biển, ngoài
họ ra, không còn ai. Mê-néc ra đến giữa cầu, bước xuống con nước như đang sôi sục và tháo dây buộc
thuyền. Y đứng trên thuyền, tay lần những chiếc cọc đỡ cầu và đưa thuyền vào bờ. Y không mang theo
mái chèo. Bỗng y lỡ đà không kịp bíu vào cái cọc tiếp theo. Cùng lúc đó, một cơn gió mạnh ập đến
quay ngược mũi thuyền ra phía biển. Bây giờ thì dù có vươn ca? người, y cũng không thể với tới chiếc
cọc gần nhất nữa. Sóng gió chao đảo chiếc thuyền, cuốn nó vào không gian chết chóc. Thấy thế, Mênéc định nhảy xuống nước để bơi vào bờ, nhưng quyết định của y đã quá muộn, bởi vì con thuyền đã
trôi ra một quãng xa ngoài phía cuối cầu, nơi nước sâu sóng to chắc chắn sẽ dìm y chết. Khoảng cách
giữa Lông-gren và Mê-néc đang bị cuốn ra ngoài xa lúc ấy chỉ chừng mười xa-giên. Có thể cứu được
Mê-néc, bởi vì ngay chỗ Lông-gren đứng có một cuộn dây to treo ở đấy. Người ta để sẵn cuộn dây ở
đó để phòng khi thuyền về bến gặp sóng gió khó vào bờ thì ném nó xuống thuyền.
- Lông-gren! - Mê-néc kinh hoàng kêu lên. - Sao anh cứ đứng yên như phỗng thế kia? Ta đang bị cuốn
đi đây này! Ném dây xuống đi!
Lông-gren im lặng, thản nhiên nhìn Mê-néc đang luống cuống trong thuyền. Chỉ có khói thuốc lá toa?
ra nhiều hơn trên chiếc tẩu của anh. Anh chậm rãi bỏ chiếc tẩu, như để nhìn rõ hơn điều đang xảy ra.
- Lông-gren! - Mê-néc kêu cứu. - Nghe thấy ta gọi chứ? Ta sắp chết đến nơi rồi, cứu ta với!
Nhưng Lông-gren không nói với hắn một lời nào, dường như anh không nghe thấy tiếng gào tuyệt vọng
của hắn. Chừng nào chiếc thuyền chưa bị cuốn ra xa đến mức tiếng kêu cứu của Mê-néc không còn
nghe thấy nữa, chừng ấy Lông-gren còn đứng yên không nhúc nhích. Mê-néc khóc rống lên vì sợ, van
nài Lông-gren chạy về báo với dân chài, nhờ họ ra cứu, hứa cho tiền, rồi lại đe doạ, chửi rủa, nhưng
Lông-gren chỉ bước ra thêm mấy bước đến tận sát mép cầu để không mất hút con thuyền đang bị sóng
dồn lên dập xuống.
- Lông-gren, - anh nghe thấy tiếng gọi mơ hồ như người trong nhà nghe người gọi từ trên mái, - cứu tôi
với!
Lúc ấy, Lông-gren hít thật sâu rồi gào lên thật to cho không một lời nào của anh bị mất hút đi trong
tiếng gió:
- Vợ tao cũng đã từng kêu cứu với mày như thế! Hãy nhớ lại điều đó đi, chừng nào mày còn sống,
đừng quên, Mê-néc ạ!
Lúc đó tiếng gào im bặt, và Lông-gren trở về nhà. Khi tỉnh dậy, A-xôn thấy bố đang ngồi bên ngọn đèn
gần tắt, vẻ mặt hết sức đăm chiêu. Nghe thấy tiếng con gái gọi, anh đến bên con, ôm chặt con mà hôn
rồi kéo chăn đắp lại cho con.
- Ngủ đi, con yêu của bố! - anh nói. - Còn lâu mới sáng, con ạ.
- Bố làm gì đấy?
- Bố vừa làm xong một đồ chơi xấu. Ngủ đi, A-xôn!
Ngày hôm sau, dân làng Ca-péc-na xôn xao bàn tán về chuyện Mê-néc bị mất tích. Đến ngày thứ sáu
thì người ta đem Mê-néc về làng, sống dở chết dở, vẻ mặt đầy ác độc. Chuyện y kể chẳng mấy chốc
lan truyền đi khắp các làng lân cận. Mê-néc lênh đênh trên sóng biển cho đến chiều. Y đã phải vật lộn
với sóng nước lúc nào cũng chực dìm y xuống đáy biển, ca? người va đập liên tiếp vào mạn thuyền và
lòng thuyền mãi cho đến khi được chiếc tàu Lu-crê-xi-a đi Kát-xét vớt lên. Bị cảm lạnh và phải sống
qua những giờ phút kinh hãi cực độ, y đã không sống thêm được bao lâu. Chưa đầy hai ngày đêm sau y
chết, trước khi chết y cầu mong cho Lông-gren gặp phải mọi tai hoa. có thể có trên đời và trong tưởng
tượng. Câu chuyện về việc Lông-gren chứng kiến tai hoa. của Mê-néc mà không cứu giúp được tô vẽ
thêm bằng hơi thở nặng nề và rền rĩ của Mê-néc đã làm dân làng Ca-péc-na kinh ngạc. Ca? làng chẳng
còn mấy ai nhớ đến nỗi đau khổ nặng nề mà Lông-gren đã phải chịu đựng, và cũng chẳng còn mấy ai
hết sức đau khổ về Mê-ri như Lông-gren đã đau khổ cho đến hết đời mình. Dân làng cảm thấy kinh sợ,
khó hiểu về thái độ im lặng của Lông-gren lúc đó. Cho đến khi nói những lời cuối cùng cho Mê-néc
Lông-gren đã đứng lặng yên, không nhúc nhích, nghiêm nghị và trầm lặng như một người phán xét biểu
lộ sự khinh bỉ cực độ đối với Mê-néc. Sự khinh bỉ ấy còn đáng sợ hơn ca? lòng căm thù, và điều này
mọi người đều cảm thấy. Nếu anh hét lên, vung tay múa chân hoan hỉ lộ rõ sự khoái trá khi thấy kẻ thù
gặp nạn, hoặc là bằng cách nào khác tỏ rõ sự đắc thắng của mình khi Mê-néc đang tuyệt vọng, thì dân
làng đã có thể hiểu được anh. Nhưng anh lại hành động khác với họ, anh đã cư xử thật lạ lùng, thật
đáng kinh ngạc, và bằng cách đó anh đã đứng cao hơn những người khác. Nghĩa là anh đã làm một
điều không thể tha thứ được. Từ lúc ấy, không ai chào anh, không ai bắt tay hay nhìn anh một cách vui
vẻ hồ hởi nữa. Anh hoàn toàn xa cách với mọi chuyện trong làng. Trẻ con trông thấy anh chạy theo
đồng thanh hô: “Lông-gren dìm chết Mê-néc!”. Anh không thèm để ý đến những chuyện ấy. Hình như
anh cũng không nhận thấy rằng khi anh xuất hiện trong quán rượu hay ngoài bờ biển thì dân chài ở đấy
đều im bặt, tránh xa anh như tránh người mắc bệnh dịch hạch. Chuyện xảy ra với Mê-néc đã khoét sâu
thêm sự ngăn cách gữa Lông-gren với dân làng, trước kia còn chưa sâu sắc lắm. Bây giờ khi sự ngăn
cách đó trở nên sâu sắc thì hai bên đều thấy căm ghét nhau và điều này đã ảnh hưởng đến ca? A-xôn.
Cô bé đã lớn lên mà không có bạn bè. Hai ba chục đứa trẻ cùng lứa tuổi ở làng Ca-péc-na, khác nào
chiếc bọt biển thấm nước, đã nhiễm phải định kiến thô bạo của gia đình mà cơ sở của nó là uy tín
tuyệt đối của cha mẹ. Bọn chúng nhanh chóng tiếp nhận điều đó, như mọi đứa trẻ trên thế giới, và tẩy
chay cô bé A-xôn, loại bỏ em ra khỏi môi trường của chúng. Điều này đã xảy ra một cách dần dà,
bằng đe nẹt, doa. dẫm của người lớn. Họ cấm đoán bọn trẻ chơi với A-xôn, thêu dệt những chuyện
méo mó để rồi cuối cùng, với đầu óc non nớt của chúng, bọn trẻ tự nhiên thấy sợ hãi trước gia đình
người thuỷ thủ.
Thêm vào đấy, lối sống cách biệt của Lông-gren làm cho mọi người càng dễ bề đơm đặt vu khống.
Người ta nói rằng thuỷ thủ Lông-gren đã từng giết người ở đâu đó, và vì thế không được nhận làm trên
tàu nữa, còn bản thân anh bây giờ trở nên cô độc u sầu vì “bị lương tâm cắn rứt”. Bọn trẻ xua đuổi Axôn. Nếu cô bé lân la đến chơi với chúng, chúng ném đất vào em, trêu chọc em rằng bố em đã từng ăn
thịt người và bây giờ đang làm bạc gia?. Lần nào A-xôn định đến gần bọn trẻ, em cũng bị cào cấu,
đánh đập thâm tím, em khóc lóc cay đắng và chịu đựng mọi biểu hiện khác của dư luận xã hội, cuối
cùng em cũng không còn cảm thấy bị nhục mạ nữa. Nhưng đôi khi em vẫn hỏi bố em: “Bố ơi, sao họ
không yêu bố con mình?”- Lông-gren đáp: “Này, A-xôn, lẽ nào họ biết yêu? Cần phải biết yêu, nhưng
điều này thì họ không làm được”. - “Thế nào là biết yêu hở bố ?” -”Là thế này, con ạ!”- Anh liền bế
con gái lên và hôn thật lâu vào đôi mắt đượm buồn của con, đôi mắt đang lim dim lại vì được âu yếm.
Những phút chơi đùa thích thú nhất của A-xôn là vào buổi tối hay ngày lễ, khi bố em thu dọn hộp đựng
hồ dán, đồ lề, các công việc đang dở dang sang một bên, cởi chiếc tạp dề ra, ngậm tẩu thuốc và miệng
rồi bế em ngồi lên đùi mình. Những lúc ấy, A-xôn ngồi trong vòng tay nâng niu của bố, vừa sờ mó
những thứ đồ chơi khác nhau vừa hỏi bố về công dụng của từng thứ đồ vật ấy. Lông-gren lại có dịp kể
những chuyện thật ly kỳ về cuộc sống và con người. Do chỗ trước đây Lông-gren đã sống một cuộc
đời nay đây mai đó, câu chuyện anh kể thường chứa đầy những sự kiện tình cờ, lạ kỳ và đáng kinh
ngạc. Lông-gren nói với con tên những loại dây dợ, buồm, những vật dụng trên tàu, rồi dần dần say
sưa chuyển từ lời giải thích sang kể những tình huống khác nhau trong đó vai trò chính là cái tời để
tha? và cất neo, bánh lái, cột buồm hay một loại thuyền nào đấy, và từ những minh hoa. cụ thể đó anh
chuyển sang kể lại những cảnh đi biển đầy phóng khoáng, kết hợp chuyện mê tín với chuyện thật, rồi
chuyện thật với các hình ảnh do anh hư cấu ra. Trong chuyện đó mới xuất hiện nào là con mèo cọp báo
hiệu đắm tàu, nào là con cá bay biết nói, nếu không nghe lệnh của nó sẽ đi lạc đường, nào là những
điềm báo, những hồn ma, nàng tiên cá, những tên cướp biển, nói tóm lại là tất ca? những chuyện hoang
đường mà các thuỷ thủ đã kể cho nhau nghe trong quán rượu quen thuộc hay trên tàu những khi gió
lặng. Lông-gren còn kể về những lần đắm tàu, về những người lạc trên đảo lạ đã trở thành man rợ đến
nỗi quên ca? tiếng nói, về những kho báu bí mật, về những người tù khổ sai nổi loạn và nhiều chuyện
khác. A-xôn nghe bố kể có lẽ còn chăm chú hơn khi người ta nghe ông Cô-lông kể lần đầu về chuyện
tìm ra châu Mỹ. “Bố kể nữa đi”, - bé A-xôn nói với bố khi Lông-gren ngừng kể, vẻ mặt tư lự, rồi em
thiếp đi trên ngực bố trong giấc ngủ đầy những giấc mơ kỳ lạ.
A-xôn cũng rất mừng mỗi lần người buôn đồ chơi trên thị trấn về nhà Lông-gren mua hàng. Để lấy
lòng Lông-gren và để mua được rẻ hơn, người lái buôn thường đem quà cho A-xôn, khi thì vài qua?
táo, cái bánh ngọt, khi thì nắm hạt dẻ. Thường thì Lông-gren chỉ nói đúng giá tiền thứ đồ chơi mình
làm ra vì anh không thích thú gì chuyện cò kè mua bán. Nhưng lần nào người lái buôn cũng đòi bớt.
“ồ, sao lại thế ông, - Lông-gren nói, - tôi phải ngồi ca? tuần mới làm được chiếc thuyền buồm đấy.
Chiếc thuyền này dài năm véc- sốc. Ông cứ nhìn xem, chắc chắn lắm đấy, phần chìm lại chất lượng tốt
nữa. Có thể chở được mười lăm người trong mọi thời tiết đấy.”. Kết cục là tiếng đứa con gái đang khẽ
hát ru qua? táo đã làm Lông-gren mềm lòng, anh hết muốn tranh cãi với người lái buôn, và y cuối cùng
đã mua được rẻ. Y cho những đồ chơi chắc chắn, tuyệt đẹp ấy vào làn rồi ra về, tủm tỉm cười.
Mọi việc trong nhà, Lông-gren tự tay làm hết: bổ củi, xách nước, đốt lò, nấu ăn, giặt giũ, là quần áo,
dọn dẹp mọi thứ. Tuy vậy, Lông-gren vẫn dành thời gian để kiếm tiền. Khi A-xôn lên tám tuổi, anh đã
dạy con đọc, viết. Thỉnh thoảng anh đưa con lên thị trấn. Sau đó đôi lần anh còn để con đi đến đó một
mình mỗi khi cần phải vay tạm ít tiền ngoài cửa hiệu, hay đi đưa hàng. Điều này cũng ít xảy ra dù thị
trấn Li-xơ chỉ cách làng Ca-péc-na vẻn vẹn bốn dặm. Nhưng vì đường đi phải qua một khu rừng thì
thiếu gì cái làm trẻ con sợ sệt, chưa nói đến những nguy hiểm tuy cũng khó xảy ra vì ở gần phố xá
nhưng không phải là không cần tính đến. Cho nên chỉ vào những buổi sáng thật đẹp trời, khi hai bên
đường chan hoà ánh nắng, hoa cỏ tốt tươi, bầu trời vắng lặng, A-xôn không còn tâm trí đâu mà tưởng
tượng đến những điều đáng sợ nữa, những lúc ấy Lông-gren mới cho con gái đi một mình lên phố.
Có lần, trên đường đi lên phố, cô bé A-xôn ngồi lại nghỉ và lấy miếng bánh rán để trong làn ra ăn lót
dạ buổi sáng. Vừa ăn, A-xôn vừa ngắm nghía các đồ chơi mang theo: cô bé thấy vài ba thứ đồ chơi lạ,
những thứ này cha cô đã làm về khuya. Trong số đó có một chiếc thuyền đua nhỏ sơn màu trắng với
những cánh buồm đỏ thắm làm bằng những mảnh lụa mà Lông-gren chuyên dùng để trang hoàng cho
các căn buồng trên tàu thuỷ lớn - thứ đồ chơi dành cho trẻ con các gia đình lắm tiền. Chắc là sau khi
đẽo xong chiếc thuyền đua màu trắng, Lông-gren không biết lấy gì để làm buồm và đã tình cờ ghép
vào đấy những mảnh lụa màu đỏ thắm. A-xôn mừng quá. Màu lụa thắm của những cánh buồm bé xíu đỏ
rực trên tay A-xôn, dường như cô bé đang nâng niu một ngọn lửa. Đường lên phố đi qua một chiếc cầu
nhỏ ghép bằng gỗ thô, dưới cầu là con suối len lỏi trong cánh rừng. “Mình thử tha? xuống nước cho nó
bơi một chút xem sao, - A-xôn nghĩ, - nó có bị ướt thì mình lại lau khô được ngay thôi mà”. Cô bé đi
sang bên kia cầu rồi men theo dòng suối, rẽ vào cánh rừng, khẽ khàng đặt chiếc thuyền mà cô yêu thích
xuống mặt nước sát bên bờ. Cánh buồm in hình thắm đỏ trong làn nước trong veo, và tia sáng mặt trời
chiếu qua lần vải lụa lung linh một màu hồng trên những hòn đá cuội trắng muốt hiện ra dưới đáy.
“Ông Thuyền trưởng ơi, ông từ đâu đến đấy?” - A-xôn khẽ hỏi một người tưởng tượng bằng giọng
nghiêm trang, rồi cô bé tự đóng luôn vai Thuyền trưởng tra? lời: “Tôi đi từ... đi từ... Trung Hoa tới”.
“Thế ông chở cái gì thế?”-”Chở cái gì tôi cha? nói đâu”. “Chà, ông bướng thật, ông Thuyền trưởng ạ!
Thế thì tôi lại bỏ ông vào làn vậy”. Ngay khi anh chàng Thuyền trưởng tưởng tượng kia vừa định
ngoan ngoãn tra? lời rằng mình chỉ nói đùa thôi và anh ta sắp sửa lấy ra cho xem một con voi thì bất
ngờ dòng nước chảy ven bờ từ từ làm quay mũi thuyền ra phía giữa dòng, và con thuyền, y như thật,
lao nhanh theo dòng suối. Cảnh tượng trước mắt cô bé đột nhiên thay đổi: con suối đối với cô bé bỗng
trở thành một dòng sông rộng, chiếc thuyền nhỏ hiện ra như một chiếc tàu lớn đã ra khơi xa, còn cô bé
chút nữa thì ngã xuống nước giơ tay ra lấy thuyền. “Chắc là Thuyền trưởng sợ lắm”, - cô bé thoáng
nghĩ vậy và chạy theo chiếc thuyền con đang lao đi vun vút, cô hy vọng đến một chỗ nào đó, con
truyền sẽ mắc lại bên bờ. Cô bé vừa chạy vừa xách theo chiếc làn không nặng lắm nhưng cồng kềnh,
miệng lẩm bẩm: “Trời ơi! Sao mình lại không may thế nhỉ!... ”. Cô bé cố không rời mắt khỏi con
thuyền buồm xinh xắn đang lướt nhẹ trên dòng suối, chốc chốc lại vấp ngã, đứng vội lên, rồi lại chạy
theo.
Chưa bao giờ A-xôn vào sâu trong rừng đến thế. Cô bé bị thu hút tất ca? ý muốn nôn nóng lấy lại
được chiếc thuyền, không còn nhìn thấy gì khác nữa. Dọc bờ suối cô bé chạy là vô số những vật
chướng ngại, lẽ ra phải để ý tới. Những thân cây đổ bám đầy rêu, những cái hố, những cây dương xỉ,
cây tầm xuân, cây nhài, cây dẻ mọc sum suê làm vướng chân A-xôn. Dần dần cô bé thấm mệt, mỗi lúc
lại phải dừng lại nhiều hơn để thở hay để gạt mạng nhện bám lên mặt. Đến một quãng rộng, lau sậy
mọc đầy hai bên bờ thì A-xôn không còn nhìn thấy cánh buồm đỏ thắm nữa. Nhưng qua một khúc
quanh, lúc cô bé thoáng nhìn ra chung quanh và ca? khu rừng rậm rì với từng cột ánh sáng đổ dài qua
tán lá xen lẫn những khoảng tối sẫm âm u làm cô vô cùng kinh ngạc. Một chút sợ hãi thoáng qua nhưng
rồi nghĩ đến chiếc thuyền, cô bé lại nặng nề thở, ráng hết sức chạy tiếp.
Cuộc chạy đuổi vô vọng và lo âu ấy kéo dài gần một tiếng đồng hồ, cho đến khi cô ngạc nhiên và
khoan khoái thấy phía trước mặt cây cối giãn ra, để lộ một vùng biển màu xanh biếc cùng với những
áng mây và bờ cát vàng. Cô bé chạy đi tới đó, mệt rã rời gần như ngã khuỵu xuống. Nơi đây là cửa
dòng suối; nước toa? ra không rộng và nông, có thể nhìn thấy rõ những hòn đá màu xanh nằm dưới đáy.
Tới đây con suối mất hút trong làn sóng biển tràn đến. Từ trên bờ cát thoai thoải nham nhở những rễ
cây, A-xôn nhìn thấy bên suối, trên một tảng đá to bằng phẳng, có một người ngồi quay lưng lại phía
cô, tay cầm chiếc thuyền nhỏ. Người đó ngắm nghía kỹ càng chiếc thuyền với vẻ tò mò như một con
voi vừa bắt được con bướm. Cô bé hơi yên lòng một chút vì thấy chiếc thuyền vẫn còn nguyên vẹn.
Cô men theo bờ cát đi gần lại phía người lạ mặt cặp mắt chăm chú dò xét chờ người kia ngẩng đầu
lên. Nhưng người lạ mặt say sưa ngắm vật bất ngờ gặp giữa rừng, đến mức cô bé có thể quan sát kỹ
càng người ấy suốt từ đầu đến chân và nhận ra rằng từ bé đến giờ trong đời cô chưa từng gặp một ai
giống như vậy ca?.
Nhưng trước mắt cô bé không phải ai xa lạ, mà chính là ông già Ê-gơn, một người đi bộ khắp đó đây
để sưu tầm những bài dân ca, những câu chuyện cổ tích, thần thoại. Những món tóc xoăn dài bạc trắng
lộ ra ngoài chiếc mũ rơm, chiếc áo sơ mi màu xám bỏ vào trong quần màu xanh và đôi ủng cao cổ
đem lại cho ông dáng dấp một người đi săn, chiếc cổ áo màu trắng, chiếc ca- vát, cái thắt lưng to bản
có gắn miếng kim loại mạ bạc, chiếc gậy chống và cái xắc có khoá mạ kền tất ca? những thứ ấy cho
thấy rõ ông già vốn là người thành thị. Vẻ mặt của ông nếu có thể dùng từ “mặt” để chỉ cái mũi, đôi
môi, cặp mắt lộ ra sau lớp râu sum suê và sau bộ ria rậm mọc vểnh lên nom thật chất phác, nếu như
không chú ý đến cặp mắt xam xám màu cát, ánh lên như thép thuần chất với cái nhìn khoẻ khoắn, táo
bạo.
Bây giờ thì ông cho cháu xin lại nhé, cô bé rụt rè cất tiếng nói. Ông chơi một lúc lâu rồi đấy. Làm thế
nào mà ông vớt được nó lên?
Ông già Ê-gơn ngẩng đầu, đánh rơi chiếc thuyền xuống đất. Giọng nói nhỏ nhẻ đầy xúc động của Axôn vang đến tai ông quá bất ngờ. Ông già mỉm cười ngắm nhìn cô bé một lúc, từ từ khẽ tựa chiếc cằm
đầy râu vào lòng bàn tay xương xương gân guốc của mình. Chiếc váy hoa bạc màu dài chưa quá đầu
gối, để lộ đôi chân nhỏ gầy sạm nắng. Mái tóc đen dày ẩn dưới chiếc khăn ren loà xoà trên vai.Nét
mặt cô bé trông thật thanh thoát và trong trắng như đường bay của chim én mùa xuân. Đôi mắt màu đen
thoáng đượm một câu hỏi buồn buồn trông già dặn hơn khuôn mặt cô bé; gương mặt trái xoan mềm
mại, hơi rám nắng, trông thật khoẻ khoắn, đáng yêu. Cái miệng nho nhỏ xinh xinh hé nở một nụ cười
duyên dáng.
- Các ông Grim, Êđốp, An- đéc-xen cũng phải thấy đây là một chuyện gì rất đặc biệt!- Ông già nói,
lúc thì nhìn cô bé, lúc thì nhìn chiếc thuyền nhỏ. - Này cô bé đáng yêu, hãy nghe ta nói nhé! Chiếc
thuyền con này là của cháu ư ?
- Thưa ông vâng ạ. Cháu chạy đuổi theo nó suốt dọc bờ suối mệt muốn chết ông ạ. Thế nó mắc lại ở
đây hở ông ?
- Ở ngay bên chân ta đây. Đó là do đắm tàu, mà ta thì như là tên cướp trên bờ, ta có thể trao cho cháu
phần thưởng này. Sau khi các thuỷ thủ đã rời khỏi thuyền thì một con sóng cao chừng ba véc- sốc đã
hất nó lên bờ cát, khoảng giữa gót chân trái ta và chiếc gậy này. - Ông già cầm chiếc gậy đập đập
xuống đất. - Thế cháu tên là gì, cô bé dễ thương?
- Cháu tên là A-xôn, - cô bé tra? lời, tay cầm chiếc thuyền nhỏ mà ông già vừa đưa trả, bỏ vào làn.
- Được rồi, - Ông già tiếp tục nói bằng một giọng khó hiểu. Mắt vẫn chăm chăm nhìn cô bé, cái nhìn
ẩn một nụ cười trìu mến. - Kể ra thì ta cũng chẳng cần hỏi tên cháu làm gì. Hay lắm, tên cháu nghe là
lạ, ngắn ngủi và có nhạc điệu như tiếng mũi tên vút đi hay tiếng ngân vang của chiếc vỏ ốc biển. Ta sẽ
biết làm gì, nếu như cháu có một cái tên nghe thì êm tai, nhưng lại quá nhàm và rất xa lạ đối với điều
Bí ẩn Đẹp đẽ? Hơn mữa ta cũng không muốn biết cháu là ai, bố mẹ cháu làm gì, cháu sống thế nào.
Biết đâu cái ấn tượng tuyệt vời ban đầu này lại chẳng bớt trọn vẹn nếu ta hỏi thêm những điều ấy? Ta
ngồi trên tảng đá này và đang so sánh các cốt truyện cổ tích Nhật Bản và Phần Lan... thì bất ngờ dòng
suối đem tới đây con thuyền này và rồi cháu xuất hiện... như thế này đây. Cô bé đáng yêu ạ, ta là một
nhà thơ từ trong tâm hồn, mặc dù ta chưa bao giờ làm thơ ca?. Làn của cháu đựng những gì vậy?
- Trong làn cháu để mấy chiếc thuyền, - A-xôn tra? lời, tay lúc lắc chiếc làn, - với một chiếc tàu thuỷ
và mấy cái nhà nhỏ có cắm cờ. Đấy là nhà ở của quân lính đấy.
- Được lắm. Thế ra cháu được sai đem những thứ này đi bán. Dọc đường cháu lại ham chơi. Cháu
tha? chiếc thuyền này xuống nước cho nó bơi, thế rồi nó trôi đi mất. Phải thế không?
- Ông trông thấy cháu làm thế à? - A-xôn ngập ngừng hỏi, giọng nghi ngờ, cô bé cố nhớ lại xem mình
đã kể chuyện này chưa. - Ai kể lại với ông hay là ông tự đoán ra?
- Ta biết chuyện đó.
- Sao ông biết?
- Vì ta là một ông tiên.
A-xôn cảm thấy lúng túng. Cô bé cố hiểu những lời ông già nói, nhưng chỉ càng thấy sợ sệt hơn. Bãi
biển hoang vắng, khoảng không lặng ngắt, câu chuyện kỳ lạ, vất va? vừa xảy ra với chiếc thuyền nhỏ,
lời nói khó hiểu của ông già có đôi mắt sáng, bộ râu và mái tóc đầy vẻ trang nghiêm - tất ca? càng
đem lại cho A-xôn cái cảm giác hư hư thực thực. Bây giờ chỉ cần ông già nhăn mặt hay thét lên một
tiếng là cô bé sẽ khóc oà, bỏ chạy rồi ngã khuỵu xuống vì sợ hãi. Nhưng ông già Ê-gơn nhận thấy đôi
mắt cô bé mở to đầy vẻ hoảng hốt, đã vội vàng đổi giọng.
- Cháu không việc vì phải sợ ta cả, - Ông già khoan thai nói. - Ta còn muốn nói chuyện tâm tình với
cháu nữa đấy.
Đến lúc đó ông mới nhận ra cái gì trên gương mặt cô bé đã gây cho ông ấn tượng sâu sắc như vậy.
“Chính là vẻ đợi chờ rất tự nhiên một cái gì đẹp đẽ tốt lành, một số phận may mắn, - Ông già nghĩ vậy.
- Chà, tiếc quá, sao mình không phải là nhà văn? Đây thật là một đề tài tuyệt diệu!”.
- Này cô bé, - Ông già vừa nghĩ tiếp cho câu chuyện thêm hoàn chỉnh (cái thiên hướng dựng những
chuyện hoang đường - hậu qua? của công việc hằng ngày - lúc này đã lấn át mối lo ngại gieo những hạt
giống của một niềm mơ ước lớn trên một mảnh đất còn hoang sơ), - cháu hãy lắng nghe ta nói nhé. Ta
đã đến làng mà cháu vừa đi ra, tức là làng Ca-péc-na. Ta rất thích các chuyện cổ tích, các bài dân ca.
Ta đã ngồi ở làng Ca-péc-na suốt một ngày để cố nghe được những cái chưa ai nghe thấy. Nhưng dân
làng cháu không kể chuyện cổ tích, cũng không hát dân ca. Và nếu có kể chuyện và hát, thì cháu biết
không, toàn về những anh chàng nông dân và những chú lính láu cá, ranh vặt, luôn huênh hoang về
những trò bịp bợm, toàn là những bài vè bốn câu ngắn ngủn với nhạc điệu rất xấu, nghe bẩn thỉu như
bàn chân chưa rửa, thô thiển như tiếng ọc ạch sôi bụng... Ồ ta nói hơi lạc đề rồi. Ta kể lại từ đầu.
Nghĩ ngợi một lát, ông già nói tiếp:
- Ta không biết còn bao nhiêu năm nữa, chỉ biết rằng ở làng Ca-péc-na thế nào cũng có một câu
chuyện thần thoại mà người mai sau sẽ còn nhớ mãi. Cháu rồi sẽ lớn lên, A-xôn ạ. Có lần vào buổi
sớm mai, từ phía biển khơi xa tít tắp sẽ hiện ra rực rỡ dưới ánh mặt trời một cánh buồm đỏ thắm. Con
tàu màu trắng với những cánh buồm thắm đỏ ấy sẽ rẽ sóng lướt đi thẳng tới chỗ cháu. Con tàu kỳ diệu
ấy sẽ nhẹ nhàng trôi tới, không có tiếng súng nổ, không có tiếng hò la, trên bờ mọi người tụ tập đông
đúc trầm trồ kinh ngạc, và cháu cũng sẽ đứng ở đấy. Con tàu uy nghiêm tiến gần lại bờ trong tiếng
nhạc du dương, đằm thắm, rồi từ con tàu đó, một chiếc thuyền nhỏ tách ra bơi nhanh vào bờ, trên
thuyền trải thảm, rực rỡ ánh vàng và màu hoa. “Các ông tới đây làm gì? Các ông tìm ai vậy?”- mọi
người trên bờ cất tiếng hỏi. Đến lúc đó cháu sẽ nhìn thấy một vị hoàng tử tuấn tú, khoẻ mạnh, khôi ngô
đứng trên thuyền, hai tay đưa ra phía cháu. “Chào em. A-xôn! - chàng trai tuấn tú cất tiếng nói. - Từ
một nơi rất xa, rất xa, anh nhìn thấy em trong mơ và anh đã đến đây để đem em đi mãi mãi về xứ sở
của anh. Em sẽ sống với anh nơi ấy, trong một thung lũng đầy hoa hồng. Em sẽ có tất ca? những gì em
mơ ước: chúng ta sẽ sống thuận hoà, vui vẻ với nhau và tâm hồn em sẽ không bao giờ biết đến nỗi
buồn và nước mắt”. Chàng trai ấy sẽ đặt cháu lên thuyền, đưa cháu lên tàu và sẽ mãi mãi đi về xứa sở
nơi mặt trời thức dậy và những vì sao trên trời sa xuống để chào mừng cháu đến.
- Tất ca? chuyện ông kể là về cháu đấy ư? - cô bé khẽ khàng hỏi.
Cặp mắt đầu vẻ nghiêm trang của cô bé bỗng ánh lên một niềm vui tin cậy: nếu ông ấy là một người có
phép lạ độc ác thì chắc là ông đã không kể như vậy. Cô bé bước lại gần hơn:
- Có lẽ chiếc tàu ấy đã... đến rồi ha? ông?
- Không nhanh thế đâu, - Ông già Ê-gơn tra? lời, - trước tiên là cháu phải lớn lên đã chứ, rồi sau đó
mới... biết nói thế nào nhỉ? Con tàu ấy thế nào cũng đến, cháu ạ, nhất định như thế. Đến lúc ấy thì cháu
sẽ làm gì nhỉ?
- Cháu ấy à? - cô bé nhìn vào trong chiếc làn, nhưng có lẽ cô bé đã không thấy một vật gì có thể làm
vật đền bù xứng đáng. - Cháu sẽ yêu hoàng tử, - cô bé tra? lời vội vàng và ngập n...
Lông-gren là thuỷ thủ của con tàu “ô-ri- On” chở được ba trăm tấn. Anh đã làm việc trên con tàu đó
mười năm và gắn bó với nó có lẽ còn thân thiết hơn là con với mẹ. Nhưng cuối cùng thì anh phải bỏ
con tàu.
Chuyện xảy ra như thế này. Vào một trong những chuyến về thăm nhà hiếm hoi, anh không thấy chị Mêri, vợ anh, từ xa đứng trên ngưỡng cửa vẫy vẫy tay, rồi sau đó chạy tới đón anh, thở hổn hển chừng
như đứt hơi. Bên chiếc giường trẻ con - đồ vật mới trong căn nhà nhỏ của Lông-gren - anh chỉ thấy bà
hàng xóm với dáng vẻ đầy xúc động.
- Đã ba tháng rồi tôi phải chăm sóc nó đấy, - bà hàng xóm nói, - anh hãy nhìn con gái anh đi!
Lông-gren lặng người, cúi xuống đứa trẻ tám tháng đang chăm chăm nhìn bộ râu dài của anh, rồi anh
ngồi xuống, đầu cúi, tay vân vê bộ râu. Râu anh ướt đầm vì mưa.
- Mê-ri chết bao giờ hở bác? - anh hỏi.
Người đàn bà kể lại câu chuyện buồn thảm, chốc chốc dừng lại nựng đứa bé và qua? quyết rằng Mê-ri
đã được lên thiên đường. Khi Lông-gren biết rõ câu chuyện thì thiên đường đối với anh chẳng sáng
sủa hơn nhà chứa củi là bao nhiêu, và anh nghĩ rằng nếu như bây giờ có ca? vợ anh thì ánh lửa của
chiếc đèn nhỏ có thể là một niềm vui không gì thay thế được đối với người phụ nữ đã đi vào xứ sở
huyền bí.
Chừng ba tháng trước, người mẹ trẻ gặp phải chuyện không may. Hơn nửa số tiền Lông-gren để lại,
Mê-ri đã tiêu tốn vào việc chữa chạy sau lần đẻ khó, vào việc chăm sóc sức khoẻ cho đứa trẻ sơ sinh.
Thêm nữa, Mê-ri lại đánh mất một số tiền tuy không nhiều nhưng rất cần cho cuộc sống của hai mẹ
con. Hoàn cảnh khó khăn đó đã buộc Mê-ri phải đến nhà Mê-néc vay tiền. Mê-néc là chủ quán rượu,
có một cửa hàng tạp hoá nhỏ. Y được coi là kẻ giàu có.
Mê-ri đến nhà y vào lúc sáu giờ tối. Gần bảy giờ, bà hàng xóm gặp chị trên đường đến thị trấn Li-xơ.
Mê-ri vừa khóc vừa buồn bã kể rằng chị phải đi lên phố để cầm chiếc nhẫn cưới. Chị nói thêm rằng
Mê-néc đồng ý đưa tiền cho chị, nhưng đòi chị phải yêu hắn. Mê-ri đành về không.
- Nhà cháu không còn gì ăn, bác ạ, - chị nói với bà hàng xóm. - Cháu phải đi lên phố cố kiếm về ít
tiền, rồi hai mẹ con gắng lần hồi cho đến khi nhà cháu về.
Tối hôm đó trời vừa rét vừa có gió thổi, bà hàng xóm đã không ngăn được Mê-ri đi lên phố vào ban
đêm. “Cháu sẽ bị ướt, Mê-ri ạ, trời đang lất phất mưa, cứ cái điệu gió này thì trời sắp mưa to đấy!”
Từ làng ven biển lên thị trấn Li-xơ ca? đi lẫn về nhanh cũng mất ít nhất ba giờ, nhưng Mê-ri không
nghe theo lời khuyên của bà hàng xóm. “Thôi, cháu không muốn quấy qua? các bác nữa, - Mê-ri nói, gần như nhà nào cháu cũng từng vay bánh mì, chè hay bột. Đem cầm chiếc nhẫn này là xong thôi bác
ạ”. Mê-ri đi lên phố về, đến hôm sau thì lên cơn sốt cao, mê sảng. Trời đêm lạnh giá đã làm chị bị
viêm phổi nặng - theo lời ông bác sĩ trên phố được bà già tốt bụng mời về cho biết. Một tuần sau,
chiếc giường đôi của Lông-gren đã trống không, bà hàng xóm đã dọn sang nhà anh ở để chăm sóc trẻ.
Đối với một người đàn bà goá bụa cô đơn như bà thì việc đó không khó. “Thêm nữa - bà nói tiếp, không có đứa bé ấy thì cũng buồn”.
Lông-gren đi lên phố, thôi việc, từ biệt bạn bè rồi trở về nhà nuôi nấng bé A-xôn. Khi đứa bé đi chưa
vững thì bà hàng xóm còn ở lại trong nhà Lông-gren, thay thế người mẹ quá cố chăm sóc nó. Nhưng
khi A-xôn đi vững, bước qua được ngưỡng của thì Lông-gren quyết định sẽ tự mình nuôi dạy đứa trẻ.
Anh cám ơn bà hàng xóm đã tận tình giúp đỡ anh. Rồi từ đấy, anh sống cuộc đời cô đơn của người goá
vợ, tập trung tất ca? ý nghĩ, hi vọng, tình cảm và kỷ niệm của mình vào đứa trẻ.
Mười năm sống nay đây mai đó chỉ đem lại cho anh một số tiền rất nhỏ. Anh bắt đầu làm việc. ít lâu
sau, trong những cửa hiệu trên phố đã thấy bày bán những đồ chơi do chính tay anh khéo léo làm ra những chiếc thuyền nhỏ, xuồng máy, thuyền buồm một boong, hai boong, tàu thuỷ, tàu tuần dương, tóm
lại tất ca? những gì anh đã gần gũi, những gì trong khi làm việc đã phần nào thay thế cho anh cuộc
sống ồn ào ngoài cảng, thay thế được lao động đầy thơ mộng của những chuyến đi biển. Bằng công
việc đó, Lông-gren đã kiếm tiền để hai bố con có thể sống một cách tằn tiện. Vốn là người ít giao du,
sau khi vợ mất, Lông-gren lại càng trở nên kín đáo, ít cởi mở hơn. Vào những ngày lễ, thỉnh thoảng
người ta thấy anh trong quán rượu, nhưng anh không bao giờ ngồi mà chỉ vội vàng uống một cốc rượu
ngay tại quầy rồi ra về, đáp lại lời thăm hỏi của mọi người một cách vắn tắt: “Xin chào”, “Tôi đi
nhé”, Vâng”, “Cũng thường thôi”. Anh không thích tiếp khách. Khi có khách, anh khéo léo tỏ ý muốn
họ về bằng những lời nói bóng gió xa xôi hay những cớ do anh tưởng tượng ra. Những lúc ấy, khách
chỉ còn cách là nghĩ ra một lý do nào đó để cáo từ. Phần anh cũng không thăm ai, vậy là giữa anh và
dân làng có cái gì đó lạnh lùng ngăn cách. Nếu như việc làm đồ chơi của anh phụ thuộc nhiều vào
công việc của dân làng thì quan hệ như thế có thể đem lại cho anh nhiều khó khăn. Thức ăn dự trữ và
các thứ hàng cần thiết anh mua trên thị trấn - Mê néc không thể khoe khoang được rằng Lông-gren đã
mua hàng ở cửa hiệu của y, dù chỉ là một bao diêm. Anh tự mình làm mọi việc trong nhà và tỏ ra rất
chịu khó nuôi dạy con gái, một việc vốn phức tạp, không phải của đàn ông.
A-xôn đã lên năm tuổi. Khi em ngồi trên đùi Lông - gren, chăm chú mân mê chiếc cúc áo gi-lê hay
ngộ nghĩnh hát những bài ca thuỷ thủ, Lông - gren thường dịu dàng cười với con. Qua giọng hát con
trẻ, những bài hát ấy gợi nhớ đến con gấu thắt đai xanh đang vụng về nhảy múa. Vào thời gian đó có
một chuyện xảy ra bao trùm bóng đen lên ca? hai bố con.
Dạo ấy là đầu mùa xuân, thời tiết còn khắc nghiệt như mùa đông, nhưng theo một kiểu khác. Khoảng
ba tuần liền, gió bấc từ phía biển thổi mạnh về miền đất lạnh.
Thuyền đánh cá được kéo lên bờ, xếp thành dãy dài trên bãi cát trắng tựa như vây lưng những con cá
khổng lồ. Không ai dám đi biển lúc tiết trời như thế. Trên con đường duy nhất ở làng chẳng mấy khi
gặp người nào rời khỏi nhà. Cơn lốc lạnh lẽo từ những ngọn đồi ven biển thổi thốc vào chân trời trống
trải, biến không trung thành một trò tra tấn khắc nghiệt. Suốt từ sáng đến tối, khói toa? trên những mái
nhà dốc đứng trong làng Ca-péc-na.
Nhưng những ngày gió bấc ấy lại làm Lông-gren thích ra khỏi căn nhà nhỏ ấm cúng hơn là vào những
ngày mặt trời toa? ánh vàng xuống mặt biển và làng Ca-péc-na. Lông-gren đi đến chiếc cầu nhỏ dựng
trên những hàng cọc dài, rồi đứng ở tận cuối cầu mà ngậm tẩu hút thuốc dưới trời gió rét. Anh nhìn
những con sóng bạc đầu nối tiếp nhau đang dữ dội tràn vào bờ tung bọt trắng xoá, những đợt sóng
chạy ầm ầm lan khắp vùng chân trời dông bão đen ngòm hệt như một đàn quái vật hung dữ đang lồng
lộn trong cơn tuyệt vọng tìm đến một niềm an ủi xa xôi. Những tiếng ầm ào, từng loạt cột nước dựng
lên và ca? những luồng gió tưởng như thấy được đang vằm nát xung quanh từng đợt một thật đều, thật
mạnh, làm dịu lại tâm hồn đau đớn của Lông-gren, giảm đi nỗi buồn da diết, như đưa anh vào giấc ngủ
thật say.
Có lần, vào một trong những ngày ấy, đứa con trai mười hai tuổi của Mê-néc tên là Khin trông thấy
chiếc thuyền của bố buộc dưới cầu bị sóng xô vào chân cầu chực làm vỡ mạn thuyền, bèn về nói lại
với bố. Trước lúc cơn bão kéo đến, Mê-néc quên kéo thuyền lên bờ cát. Y lập tức chạy ra ngoài biển
và nhìn thấy Lông-gren đang đứng hút thuốc tận cuối cầu, lưng quay về phía y. Ngoài bờ biển, ngoài
họ ra, không còn ai. Mê-néc ra đến giữa cầu, bước xuống con nước như đang sôi sục và tháo dây buộc
thuyền. Y đứng trên thuyền, tay lần những chiếc cọc đỡ cầu và đưa thuyền vào bờ. Y không mang theo
mái chèo. Bỗng y lỡ đà không kịp bíu vào cái cọc tiếp theo. Cùng lúc đó, một cơn gió mạnh ập đến
quay ngược mũi thuyền ra phía biển. Bây giờ thì dù có vươn ca? người, y cũng không thể với tới chiếc
cọc gần nhất nữa. Sóng gió chao đảo chiếc thuyền, cuốn nó vào không gian chết chóc. Thấy thế, Mênéc định nhảy xuống nước để bơi vào bờ, nhưng quyết định của y đã quá muộn, bởi vì con thuyền đã
trôi ra một quãng xa ngoài phía cuối cầu, nơi nước sâu sóng to chắc chắn sẽ dìm y chết. Khoảng cách
giữa Lông-gren và Mê-néc đang bị cuốn ra ngoài xa lúc ấy chỉ chừng mười xa-giên. Có thể cứu được
Mê-néc, bởi vì ngay chỗ Lông-gren đứng có một cuộn dây to treo ở đấy. Người ta để sẵn cuộn dây ở
đó để phòng khi thuyền về bến gặp sóng gió khó vào bờ thì ném nó xuống thuyền.
- Lông-gren! - Mê-néc kinh hoàng kêu lên. - Sao anh cứ đứng yên như phỗng thế kia? Ta đang bị cuốn
đi đây này! Ném dây xuống đi!
Lông-gren im lặng, thản nhiên nhìn Mê-néc đang luống cuống trong thuyền. Chỉ có khói thuốc lá toa?
ra nhiều hơn trên chiếc tẩu của anh. Anh chậm rãi bỏ chiếc tẩu, như để nhìn rõ hơn điều đang xảy ra.
- Lông-gren! - Mê-néc kêu cứu. - Nghe thấy ta gọi chứ? Ta sắp chết đến nơi rồi, cứu ta với!
Nhưng Lông-gren không nói với hắn một lời nào, dường như anh không nghe thấy tiếng gào tuyệt vọng
của hắn. Chừng nào chiếc thuyền chưa bị cuốn ra xa đến mức tiếng kêu cứu của Mê-néc không còn
nghe thấy nữa, chừng ấy Lông-gren còn đứng yên không nhúc nhích. Mê-néc khóc rống lên vì sợ, van
nài Lông-gren chạy về báo với dân chài, nhờ họ ra cứu, hứa cho tiền, rồi lại đe doạ, chửi rủa, nhưng
Lông-gren chỉ bước ra thêm mấy bước đến tận sát mép cầu để không mất hút con thuyền đang bị sóng
dồn lên dập xuống.
- Lông-gren, - anh nghe thấy tiếng gọi mơ hồ như người trong nhà nghe người gọi từ trên mái, - cứu tôi
với!
Lúc ấy, Lông-gren hít thật sâu rồi gào lên thật to cho không một lời nào của anh bị mất hút đi trong
tiếng gió:
- Vợ tao cũng đã từng kêu cứu với mày như thế! Hãy nhớ lại điều đó đi, chừng nào mày còn sống,
đừng quên, Mê-néc ạ!
Lúc đó tiếng gào im bặt, và Lông-gren trở về nhà. Khi tỉnh dậy, A-xôn thấy bố đang ngồi bên ngọn đèn
gần tắt, vẻ mặt hết sức đăm chiêu. Nghe thấy tiếng con gái gọi, anh đến bên con, ôm chặt con mà hôn
rồi kéo chăn đắp lại cho con.
- Ngủ đi, con yêu của bố! - anh nói. - Còn lâu mới sáng, con ạ.
- Bố làm gì đấy?
- Bố vừa làm xong một đồ chơi xấu. Ngủ đi, A-xôn!
Ngày hôm sau, dân làng Ca-péc-na xôn xao bàn tán về chuyện Mê-néc bị mất tích. Đến ngày thứ sáu
thì người ta đem Mê-néc về làng, sống dở chết dở, vẻ mặt đầy ác độc. Chuyện y kể chẳng mấy chốc
lan truyền đi khắp các làng lân cận. Mê-néc lênh đênh trên sóng biển cho đến chiều. Y đã phải vật lộn
với sóng nước lúc nào cũng chực dìm y xuống đáy biển, ca? người va đập liên tiếp vào mạn thuyền và
lòng thuyền mãi cho đến khi được chiếc tàu Lu-crê-xi-a đi Kát-xét vớt lên. Bị cảm lạnh và phải sống
qua những giờ phút kinh hãi cực độ, y đã không sống thêm được bao lâu. Chưa đầy hai ngày đêm sau y
chết, trước khi chết y cầu mong cho Lông-gren gặp phải mọi tai hoa. có thể có trên đời và trong tưởng
tượng. Câu chuyện về việc Lông-gren chứng kiến tai hoa. của Mê-néc mà không cứu giúp được tô vẽ
thêm bằng hơi thở nặng nề và rền rĩ của Mê-néc đã làm dân làng Ca-péc-na kinh ngạc. Ca? làng chẳng
còn mấy ai nhớ đến nỗi đau khổ nặng nề mà Lông-gren đã phải chịu đựng, và cũng chẳng còn mấy ai
hết sức đau khổ về Mê-ri như Lông-gren đã đau khổ cho đến hết đời mình. Dân làng cảm thấy kinh sợ,
khó hiểu về thái độ im lặng của Lông-gren lúc đó. Cho đến khi nói những lời cuối cùng cho Mê-néc
Lông-gren đã đứng lặng yên, không nhúc nhích, nghiêm nghị và trầm lặng như một người phán xét biểu
lộ sự khinh bỉ cực độ đối với Mê-néc. Sự khinh bỉ ấy còn đáng sợ hơn ca? lòng căm thù, và điều này
mọi người đều cảm thấy. Nếu anh hét lên, vung tay múa chân hoan hỉ lộ rõ sự khoái trá khi thấy kẻ thù
gặp nạn, hoặc là bằng cách nào khác tỏ rõ sự đắc thắng của mình khi Mê-néc đang tuyệt vọng, thì dân
làng đã có thể hiểu được anh. Nhưng anh lại hành động khác với họ, anh đã cư xử thật lạ lùng, thật
đáng kinh ngạc, và bằng cách đó anh đã đứng cao hơn những người khác. Nghĩa là anh đã làm một
điều không thể tha thứ được. Từ lúc ấy, không ai chào anh, không ai bắt tay hay nhìn anh một cách vui
vẻ hồ hởi nữa. Anh hoàn toàn xa cách với mọi chuyện trong làng. Trẻ con trông thấy anh chạy theo
đồng thanh hô: “Lông-gren dìm chết Mê-néc!”. Anh không thèm để ý đến những chuyện ấy. Hình như
anh cũng không nhận thấy rằng khi anh xuất hiện trong quán rượu hay ngoài bờ biển thì dân chài ở đấy
đều im bặt, tránh xa anh như tránh người mắc bệnh dịch hạch. Chuyện xảy ra với Mê-néc đã khoét sâu
thêm sự ngăn cách gữa Lông-gren với dân làng, trước kia còn chưa sâu sắc lắm. Bây giờ khi sự ngăn
cách đó trở nên sâu sắc thì hai bên đều thấy căm ghét nhau và điều này đã ảnh hưởng đến ca? A-xôn.
Cô bé đã lớn lên mà không có bạn bè. Hai ba chục đứa trẻ cùng lứa tuổi ở làng Ca-péc-na, khác nào
chiếc bọt biển thấm nước, đã nhiễm phải định kiến thô bạo của gia đình mà cơ sở của nó là uy tín
tuyệt đối của cha mẹ. Bọn chúng nhanh chóng tiếp nhận điều đó, như mọi đứa trẻ trên thế giới, và tẩy
chay cô bé A-xôn, loại bỏ em ra khỏi môi trường của chúng. Điều này đã xảy ra một cách dần dà,
bằng đe nẹt, doa. dẫm của người lớn. Họ cấm đoán bọn trẻ chơi với A-xôn, thêu dệt những chuyện
méo mó để rồi cuối cùng, với đầu óc non nớt của chúng, bọn trẻ tự nhiên thấy sợ hãi trước gia đình
người thuỷ thủ.
Thêm vào đấy, lối sống cách biệt của Lông-gren làm cho mọi người càng dễ bề đơm đặt vu khống.
Người ta nói rằng thuỷ thủ Lông-gren đã từng giết người ở đâu đó, và vì thế không được nhận làm trên
tàu nữa, còn bản thân anh bây giờ trở nên cô độc u sầu vì “bị lương tâm cắn rứt”. Bọn trẻ xua đuổi Axôn. Nếu cô bé lân la đến chơi với chúng, chúng ném đất vào em, trêu chọc em rằng bố em đã từng ăn
thịt người và bây giờ đang làm bạc gia?. Lần nào A-xôn định đến gần bọn trẻ, em cũng bị cào cấu,
đánh đập thâm tím, em khóc lóc cay đắng và chịu đựng mọi biểu hiện khác của dư luận xã hội, cuối
cùng em cũng không còn cảm thấy bị nhục mạ nữa. Nhưng đôi khi em vẫn hỏi bố em: “Bố ơi, sao họ
không yêu bố con mình?”- Lông-gren đáp: “Này, A-xôn, lẽ nào họ biết yêu? Cần phải biết yêu, nhưng
điều này thì họ không làm được”. - “Thế nào là biết yêu hở bố ?” -”Là thế này, con ạ!”- Anh liền bế
con gái lên và hôn thật lâu vào đôi mắt đượm buồn của con, đôi mắt đang lim dim lại vì được âu yếm.
Những phút chơi đùa thích thú nhất của A-xôn là vào buổi tối hay ngày lễ, khi bố em thu dọn hộp đựng
hồ dán, đồ lề, các công việc đang dở dang sang một bên, cởi chiếc tạp dề ra, ngậm tẩu thuốc và miệng
rồi bế em ngồi lên đùi mình. Những lúc ấy, A-xôn ngồi trong vòng tay nâng niu của bố, vừa sờ mó
những thứ đồ chơi khác nhau vừa hỏi bố về công dụng của từng thứ đồ vật ấy. Lông-gren lại có dịp kể
những chuyện thật ly kỳ về cuộc sống và con người. Do chỗ trước đây Lông-gren đã sống một cuộc
đời nay đây mai đó, câu chuyện anh kể thường chứa đầy những sự kiện tình cờ, lạ kỳ và đáng kinh
ngạc. Lông-gren nói với con tên những loại dây dợ, buồm, những vật dụng trên tàu, rồi dần dần say
sưa chuyển từ lời giải thích sang kể những tình huống khác nhau trong đó vai trò chính là cái tời để
tha? và cất neo, bánh lái, cột buồm hay một loại thuyền nào đấy, và từ những minh hoa. cụ thể đó anh
chuyển sang kể lại những cảnh đi biển đầy phóng khoáng, kết hợp chuyện mê tín với chuyện thật, rồi
chuyện thật với các hình ảnh do anh hư cấu ra. Trong chuyện đó mới xuất hiện nào là con mèo cọp báo
hiệu đắm tàu, nào là con cá bay biết nói, nếu không nghe lệnh của nó sẽ đi lạc đường, nào là những
điềm báo, những hồn ma, nàng tiên cá, những tên cướp biển, nói tóm lại là tất ca? những chuyện hoang
đường mà các thuỷ thủ đã kể cho nhau nghe trong quán rượu quen thuộc hay trên tàu những khi gió
lặng. Lông-gren còn kể về những lần đắm tàu, về những người lạc trên đảo lạ đã trở thành man rợ đến
nỗi quên ca? tiếng nói, về những kho báu bí mật, về những người tù khổ sai nổi loạn và nhiều chuyện
khác. A-xôn nghe bố kể có lẽ còn chăm chú hơn khi người ta nghe ông Cô-lông kể lần đầu về chuyện
tìm ra châu Mỹ. “Bố kể nữa đi”, - bé A-xôn nói với bố khi Lông-gren ngừng kể, vẻ mặt tư lự, rồi em
thiếp đi trên ngực bố trong giấc ngủ đầy những giấc mơ kỳ lạ.
A-xôn cũng rất mừng mỗi lần người buôn đồ chơi trên thị trấn về nhà Lông-gren mua hàng. Để lấy
lòng Lông-gren và để mua được rẻ hơn, người lái buôn thường đem quà cho A-xôn, khi thì vài qua?
táo, cái bánh ngọt, khi thì nắm hạt dẻ. Thường thì Lông-gren chỉ nói đúng giá tiền thứ đồ chơi mình
làm ra vì anh không thích thú gì chuyện cò kè mua bán. Nhưng lần nào người lái buôn cũng đòi bớt.
“ồ, sao lại thế ông, - Lông-gren nói, - tôi phải ngồi ca? tuần mới làm được chiếc thuyền buồm đấy.
Chiếc thuyền này dài năm véc- sốc. Ông cứ nhìn xem, chắc chắn lắm đấy, phần chìm lại chất lượng tốt
nữa. Có thể chở được mười lăm người trong mọi thời tiết đấy.”. Kết cục là tiếng đứa con gái đang khẽ
hát ru qua? táo đã làm Lông-gren mềm lòng, anh hết muốn tranh cãi với người lái buôn, và y cuối cùng
đã mua được rẻ. Y cho những đồ chơi chắc chắn, tuyệt đẹp ấy vào làn rồi ra về, tủm tỉm cười.
Mọi việc trong nhà, Lông-gren tự tay làm hết: bổ củi, xách nước, đốt lò, nấu ăn, giặt giũ, là quần áo,
dọn dẹp mọi thứ. Tuy vậy, Lông-gren vẫn dành thời gian để kiếm tiền. Khi A-xôn lên tám tuổi, anh đã
dạy con đọc, viết. Thỉnh thoảng anh đưa con lên thị trấn. Sau đó đôi lần anh còn để con đi đến đó một
mình mỗi khi cần phải vay tạm ít tiền ngoài cửa hiệu, hay đi đưa hàng. Điều này cũng ít xảy ra dù thị
trấn Li-xơ chỉ cách làng Ca-péc-na vẻn vẹn bốn dặm. Nhưng vì đường đi phải qua một khu rừng thì
thiếu gì cái làm trẻ con sợ sệt, chưa nói đến những nguy hiểm tuy cũng khó xảy ra vì ở gần phố xá
nhưng không phải là không cần tính đến. Cho nên chỉ vào những buổi sáng thật đẹp trời, khi hai bên
đường chan hoà ánh nắng, hoa cỏ tốt tươi, bầu trời vắng lặng, A-xôn không còn tâm trí đâu mà tưởng
tượng đến những điều đáng sợ nữa, những lúc ấy Lông-gren mới cho con gái đi một mình lên phố.
Có lần, trên đường đi lên phố, cô bé A-xôn ngồi lại nghỉ và lấy miếng bánh rán để trong làn ra ăn lót
dạ buổi sáng. Vừa ăn, A-xôn vừa ngắm nghía các đồ chơi mang theo: cô bé thấy vài ba thứ đồ chơi lạ,
những thứ này cha cô đã làm về khuya. Trong số đó có một chiếc thuyền đua nhỏ sơn màu trắng với
những cánh buồm đỏ thắm làm bằng những mảnh lụa mà Lông-gren chuyên dùng để trang hoàng cho
các căn buồng trên tàu thuỷ lớn - thứ đồ chơi dành cho trẻ con các gia đình lắm tiền. Chắc là sau khi
đẽo xong chiếc thuyền đua màu trắng, Lông-gren không biết lấy gì để làm buồm và đã tình cờ ghép
vào đấy những mảnh lụa màu đỏ thắm. A-xôn mừng quá. Màu lụa thắm của những cánh buồm bé xíu đỏ
rực trên tay A-xôn, dường như cô bé đang nâng niu một ngọn lửa. Đường lên phố đi qua một chiếc cầu
nhỏ ghép bằng gỗ thô, dưới cầu là con suối len lỏi trong cánh rừng. “Mình thử tha? xuống nước cho nó
bơi một chút xem sao, - A-xôn nghĩ, - nó có bị ướt thì mình lại lau khô được ngay thôi mà”. Cô bé đi
sang bên kia cầu rồi men theo dòng suối, rẽ vào cánh rừng, khẽ khàng đặt chiếc thuyền mà cô yêu thích
xuống mặt nước sát bên bờ. Cánh buồm in hình thắm đỏ trong làn nước trong veo, và tia sáng mặt trời
chiếu qua lần vải lụa lung linh một màu hồng trên những hòn đá cuội trắng muốt hiện ra dưới đáy.
“Ông Thuyền trưởng ơi, ông từ đâu đến đấy?” - A-xôn khẽ hỏi một người tưởng tượng bằng giọng
nghiêm trang, rồi cô bé tự đóng luôn vai Thuyền trưởng tra? lời: “Tôi đi từ... đi từ... Trung Hoa tới”.
“Thế ông chở cái gì thế?”-”Chở cái gì tôi cha? nói đâu”. “Chà, ông bướng thật, ông Thuyền trưởng ạ!
Thế thì tôi lại bỏ ông vào làn vậy”. Ngay khi anh chàng Thuyền trưởng tưởng tượng kia vừa định
ngoan ngoãn tra? lời rằng mình chỉ nói đùa thôi và anh ta sắp sửa lấy ra cho xem một con voi thì bất
ngờ dòng nước chảy ven bờ từ từ làm quay mũi thuyền ra phía giữa dòng, và con thuyền, y như thật,
lao nhanh theo dòng suối. Cảnh tượng trước mắt cô bé đột nhiên thay đổi: con suối đối với cô bé bỗng
trở thành một dòng sông rộng, chiếc thuyền nhỏ hiện ra như một chiếc tàu lớn đã ra khơi xa, còn cô bé
chút nữa thì ngã xuống nước giơ tay ra lấy thuyền. “Chắc là Thuyền trưởng sợ lắm”, - cô bé thoáng
nghĩ vậy và chạy theo chiếc thuyền con đang lao đi vun vút, cô hy vọng đến một chỗ nào đó, con
truyền sẽ mắc lại bên bờ. Cô bé vừa chạy vừa xách theo chiếc làn không nặng lắm nhưng cồng kềnh,
miệng lẩm bẩm: “Trời ơi! Sao mình lại không may thế nhỉ!... ”. Cô bé cố không rời mắt khỏi con
thuyền buồm xinh xắn đang lướt nhẹ trên dòng suối, chốc chốc lại vấp ngã, đứng vội lên, rồi lại chạy
theo.
Chưa bao giờ A-xôn vào sâu trong rừng đến thế. Cô bé bị thu hút tất ca? ý muốn nôn nóng lấy lại
được chiếc thuyền, không còn nhìn thấy gì khác nữa. Dọc bờ suối cô bé chạy là vô số những vật
chướng ngại, lẽ ra phải để ý tới. Những thân cây đổ bám đầy rêu, những cái hố, những cây dương xỉ,
cây tầm xuân, cây nhài, cây dẻ mọc sum suê làm vướng chân A-xôn. Dần dần cô bé thấm mệt, mỗi lúc
lại phải dừng lại nhiều hơn để thở hay để gạt mạng nhện bám lên mặt. Đến một quãng rộng, lau sậy
mọc đầy hai bên bờ thì A-xôn không còn nhìn thấy cánh buồm đỏ thắm nữa. Nhưng qua một khúc
quanh, lúc cô bé thoáng nhìn ra chung quanh và ca? khu rừng rậm rì với từng cột ánh sáng đổ dài qua
tán lá xen lẫn những khoảng tối sẫm âm u làm cô vô cùng kinh ngạc. Một chút sợ hãi thoáng qua nhưng
rồi nghĩ đến chiếc thuyền, cô bé lại nặng nề thở, ráng hết sức chạy tiếp.
Cuộc chạy đuổi vô vọng và lo âu ấy kéo dài gần một tiếng đồng hồ, cho đến khi cô ngạc nhiên và
khoan khoái thấy phía trước mặt cây cối giãn ra, để lộ một vùng biển màu xanh biếc cùng với những
áng mây và bờ cát vàng. Cô bé chạy đi tới đó, mệt rã rời gần như ngã khuỵu xuống. Nơi đây là cửa
dòng suối; nước toa? ra không rộng và nông, có thể nhìn thấy rõ những hòn đá màu xanh nằm dưới đáy.
Tới đây con suối mất hút trong làn sóng biển tràn đến. Từ trên bờ cát thoai thoải nham nhở những rễ
cây, A-xôn nhìn thấy bên suối, trên một tảng đá to bằng phẳng, có một người ngồi quay lưng lại phía
cô, tay cầm chiếc thuyền nhỏ. Người đó ngắm nghía kỹ càng chiếc thuyền với vẻ tò mò như một con
voi vừa bắt được con bướm. Cô bé hơi yên lòng một chút vì thấy chiếc thuyền vẫn còn nguyên vẹn.
Cô men theo bờ cát đi gần lại phía người lạ mặt cặp mắt chăm chú dò xét chờ người kia ngẩng đầu
lên. Nhưng người lạ mặt say sưa ngắm vật bất ngờ gặp giữa rừng, đến mức cô bé có thể quan sát kỹ
càng người ấy suốt từ đầu đến chân và nhận ra rằng từ bé đến giờ trong đời cô chưa từng gặp một ai
giống như vậy ca?.
Nhưng trước mắt cô bé không phải ai xa lạ, mà chính là ông già Ê-gơn, một người đi bộ khắp đó đây
để sưu tầm những bài dân ca, những câu chuyện cổ tích, thần thoại. Những món tóc xoăn dài bạc trắng
lộ ra ngoài chiếc mũ rơm, chiếc áo sơ mi màu xám bỏ vào trong quần màu xanh và đôi ủng cao cổ
đem lại cho ông dáng dấp một người đi săn, chiếc cổ áo màu trắng, chiếc ca- vát, cái thắt lưng to bản
có gắn miếng kim loại mạ bạc, chiếc gậy chống và cái xắc có khoá mạ kền tất ca? những thứ ấy cho
thấy rõ ông già vốn là người thành thị. Vẻ mặt của ông nếu có thể dùng từ “mặt” để chỉ cái mũi, đôi
môi, cặp mắt lộ ra sau lớp râu sum suê và sau bộ ria rậm mọc vểnh lên nom thật chất phác, nếu như
không chú ý đến cặp mắt xam xám màu cát, ánh lên như thép thuần chất với cái nhìn khoẻ khoắn, táo
bạo.
Bây giờ thì ông cho cháu xin lại nhé, cô bé rụt rè cất tiếng nói. Ông chơi một lúc lâu rồi đấy. Làm thế
nào mà ông vớt được nó lên?
Ông già Ê-gơn ngẩng đầu, đánh rơi chiếc thuyền xuống đất. Giọng nói nhỏ nhẻ đầy xúc động của Axôn vang đến tai ông quá bất ngờ. Ông già mỉm cười ngắm nhìn cô bé một lúc, từ từ khẽ tựa chiếc cằm
đầy râu vào lòng bàn tay xương xương gân guốc của mình. Chiếc váy hoa bạc màu dài chưa quá đầu
gối, để lộ đôi chân nhỏ gầy sạm nắng. Mái tóc đen dày ẩn dưới chiếc khăn ren loà xoà trên vai.Nét
mặt cô bé trông thật thanh thoát và trong trắng như đường bay của chim én mùa xuân. Đôi mắt màu đen
thoáng đượm một câu hỏi buồn buồn trông già dặn hơn khuôn mặt cô bé; gương mặt trái xoan mềm
mại, hơi rám nắng, trông thật khoẻ khoắn, đáng yêu. Cái miệng nho nhỏ xinh xinh hé nở một nụ cười
duyên dáng.
- Các ông Grim, Êđốp, An- đéc-xen cũng phải thấy đây là một chuyện gì rất đặc biệt!- Ông già nói,
lúc thì nhìn cô bé, lúc thì nhìn chiếc thuyền nhỏ. - Này cô bé đáng yêu, hãy nghe ta nói nhé! Chiếc
thuyền con này là của cháu ư ?
- Thưa ông vâng ạ. Cháu chạy đuổi theo nó suốt dọc bờ suối mệt muốn chết ông ạ. Thế nó mắc lại ở
đây hở ông ?
- Ở ngay bên chân ta đây. Đó là do đắm tàu, mà ta thì như là tên cướp trên bờ, ta có thể trao cho cháu
phần thưởng này. Sau khi các thuỷ thủ đã rời khỏi thuyền thì một con sóng cao chừng ba véc- sốc đã
hất nó lên bờ cát, khoảng giữa gót chân trái ta và chiếc gậy này. - Ông già cầm chiếc gậy đập đập
xuống đất. - Thế cháu tên là gì, cô bé dễ thương?
- Cháu tên là A-xôn, - cô bé tra? lời, tay cầm chiếc thuyền nhỏ mà ông già vừa đưa trả, bỏ vào làn.
- Được rồi, - Ông già tiếp tục nói bằng một giọng khó hiểu. Mắt vẫn chăm chăm nhìn cô bé, cái nhìn
ẩn một nụ cười trìu mến. - Kể ra thì ta cũng chẳng cần hỏi tên cháu làm gì. Hay lắm, tên cháu nghe là
lạ, ngắn ngủi và có nhạc điệu như tiếng mũi tên vút đi hay tiếng ngân vang của chiếc vỏ ốc biển. Ta sẽ
biết làm gì, nếu như cháu có một cái tên nghe thì êm tai, nhưng lại quá nhàm và rất xa lạ đối với điều
Bí ẩn Đẹp đẽ? Hơn mữa ta cũng không muốn biết cháu là ai, bố mẹ cháu làm gì, cháu sống thế nào.
Biết đâu cái ấn tượng tuyệt vời ban đầu này lại chẳng bớt trọn vẹn nếu ta hỏi thêm những điều ấy? Ta
ngồi trên tảng đá này và đang so sánh các cốt truyện cổ tích Nhật Bản và Phần Lan... thì bất ngờ dòng
suối đem tới đây con thuyền này và rồi cháu xuất hiện... như thế này đây. Cô bé đáng yêu ạ, ta là một
nhà thơ từ trong tâm hồn, mặc dù ta chưa bao giờ làm thơ ca?. Làn của cháu đựng những gì vậy?
- Trong làn cháu để mấy chiếc thuyền, - A-xôn tra? lời, tay lúc lắc chiếc làn, - với một chiếc tàu thuỷ
và mấy cái nhà nhỏ có cắm cờ. Đấy là nhà ở của quân lính đấy.
- Được lắm. Thế ra cháu được sai đem những thứ này đi bán. Dọc đường cháu lại ham chơi. Cháu
tha? chiếc thuyền này xuống nước cho nó bơi, thế rồi nó trôi đi mất. Phải thế không?
- Ông trông thấy cháu làm thế à? - A-xôn ngập ngừng hỏi, giọng nghi ngờ, cô bé cố nhớ lại xem mình
đã kể chuyện này chưa. - Ai kể lại với ông hay là ông tự đoán ra?
- Ta biết chuyện đó.
- Sao ông biết?
- Vì ta là một ông tiên.
A-xôn cảm thấy lúng túng. Cô bé cố hiểu những lời ông già nói, nhưng chỉ càng thấy sợ sệt hơn. Bãi
biển hoang vắng, khoảng không lặng ngắt, câu chuyện kỳ lạ, vất va? vừa xảy ra với chiếc thuyền nhỏ,
lời nói khó hiểu của ông già có đôi mắt sáng, bộ râu và mái tóc đầy vẻ trang nghiêm - tất ca? càng
đem lại cho A-xôn cái cảm giác hư hư thực thực. Bây giờ chỉ cần ông già nhăn mặt hay thét lên một
tiếng là cô bé sẽ khóc oà, bỏ chạy rồi ngã khuỵu xuống vì sợ hãi. Nhưng ông già Ê-gơn nhận thấy đôi
mắt cô bé mở to đầy vẻ hoảng hốt, đã vội vàng đổi giọng.
- Cháu không việc vì phải sợ ta cả, - Ông già khoan thai nói. - Ta còn muốn nói chuyện tâm tình với
cháu nữa đấy.
Đến lúc đó ông mới nhận ra cái gì trên gương mặt cô bé đã gây cho ông ấn tượng sâu sắc như vậy.
“Chính là vẻ đợi chờ rất tự nhiên một cái gì đẹp đẽ tốt lành, một số phận may mắn, - Ông già nghĩ vậy.
- Chà, tiếc quá, sao mình không phải là nhà văn? Đây thật là một đề tài tuyệt diệu!”.
- Này cô bé, - Ông già vừa nghĩ tiếp cho câu chuyện thêm hoàn chỉnh (cái thiên hướng dựng những
chuyện hoang đường - hậu qua? của công việc hằng ngày - lúc này đã lấn át mối lo ngại gieo những hạt
giống của một niềm mơ ước lớn trên một mảnh đất còn hoang sơ), - cháu hãy lắng nghe ta nói nhé. Ta
đã đến làng mà cháu vừa đi ra, tức là làng Ca-péc-na. Ta rất thích các chuyện cổ tích, các bài dân ca.
Ta đã ngồi ở làng Ca-péc-na suốt một ngày để cố nghe được những cái chưa ai nghe thấy. Nhưng dân
làng cháu không kể chuyện cổ tích, cũng không hát dân ca. Và nếu có kể chuyện và hát, thì cháu biết
không, toàn về những anh chàng nông dân và những chú lính láu cá, ranh vặt, luôn huênh hoang về
những trò bịp bợm, toàn là những bài vè bốn câu ngắn ngủn với nhạc điệu rất xấu, nghe bẩn thỉu như
bàn chân chưa rửa, thô thiển như tiếng ọc ạch sôi bụng... Ồ ta nói hơi lạc đề rồi. Ta kể lại từ đầu.
Nghĩ ngợi một lát, ông già nói tiếp:
- Ta không biết còn bao nhiêu năm nữa, chỉ biết rằng ở làng Ca-péc-na thế nào cũng có một câu
chuyện thần thoại mà người mai sau sẽ còn nhớ mãi. Cháu rồi sẽ lớn lên, A-xôn ạ. Có lần vào buổi
sớm mai, từ phía biển khơi xa tít tắp sẽ hiện ra rực rỡ dưới ánh mặt trời một cánh buồm đỏ thắm. Con
tàu màu trắng với những cánh buồm thắm đỏ ấy sẽ rẽ sóng lướt đi thẳng tới chỗ cháu. Con tàu kỳ diệu
ấy sẽ nhẹ nhàng trôi tới, không có tiếng súng nổ, không có tiếng hò la, trên bờ mọi người tụ tập đông
đúc trầm trồ kinh ngạc, và cháu cũng sẽ đứng ở đấy. Con tàu uy nghiêm tiến gần lại bờ trong tiếng
nhạc du dương, đằm thắm, rồi từ con tàu đó, một chiếc thuyền nhỏ tách ra bơi nhanh vào bờ, trên
thuyền trải thảm, rực rỡ ánh vàng và màu hoa. “Các ông tới đây làm gì? Các ông tìm ai vậy?”- mọi
người trên bờ cất tiếng hỏi. Đến lúc đó cháu sẽ nhìn thấy một vị hoàng tử tuấn tú, khoẻ mạnh, khôi ngô
đứng trên thuyền, hai tay đưa ra phía cháu. “Chào em. A-xôn! - chàng trai tuấn tú cất tiếng nói. - Từ
một nơi rất xa, rất xa, anh nhìn thấy em trong mơ và anh đã đến đây để đem em đi mãi mãi về xứ sở
của anh. Em sẽ sống với anh nơi ấy, trong một thung lũng đầy hoa hồng. Em sẽ có tất ca? những gì em
mơ ước: chúng ta sẽ sống thuận hoà, vui vẻ với nhau và tâm hồn em sẽ không bao giờ biết đến nỗi
buồn và nước mắt”. Chàng trai ấy sẽ đặt cháu lên thuyền, đưa cháu lên tàu và sẽ mãi mãi đi về xứa sở
nơi mặt trời thức dậy và những vì sao trên trời sa xuống để chào mừng cháu đến.
- Tất ca? chuyện ông kể là về cháu đấy ư? - cô bé khẽ khàng hỏi.
Cặp mắt đầu vẻ nghiêm trang của cô bé bỗng ánh lên một niềm vui tin cậy: nếu ông ấy là một người có
phép lạ độc ác thì chắc là ông đã không kể như vậy. Cô bé bước lại gần hơn:
- Có lẽ chiếc tàu ấy đã... đến rồi ha? ông?
- Không nhanh thế đâu, - Ông già Ê-gơn tra? lời, - trước tiên là cháu phải lớn lên đã chứ, rồi sau đó
mới... biết nói thế nào nhỉ? Con tàu ấy thế nào cũng đến, cháu ạ, nhất định như thế. Đến lúc ấy thì cháu
sẽ làm gì nhỉ?
- Cháu ấy à? - cô bé nhìn vào trong chiếc làn, nhưng có lẽ cô bé đã không thấy một vật gì có thể làm
vật đền bù xứng đáng. - Cháu sẽ yêu hoàng tử, - cô bé tra? lời vội vàng và ngập n...
 





